Thứ hai, Tháng mười 15, 2007
Thứ sáu, Tháng mười 12, 2007
QUẢN LÝ SỰ THAY ĐỔI
Thứ sáu, Tháng chín 14, 2007
NÂNG TẦM CÂY CAO SU TRÊN ĐỊA BÀN GIA LAI
Tính đến nay, vừa tròn 110 năm cây cao su được du nhập vào Việt Nam (1897) và 100 năm hình thành những đồn điền kinh doanh (1907). Diện tích cây cao su đã tăng rất nhanh, từ 7.077 ha tập trung tại các tỉnh Đông Nam Bộ vào năm 1920; đã tăng lên đến 480.200 ha trên cả nước, cho tổng sản lượng mủ khai thác đạt 468.600 tấn. Còn hiện nay? Theo thống kê, hiện cả nước có trên 500.000 ha cao su, trong đó Bắc Trung Bộ 41.500 ha-năng suất 10 tấn/ha, Nam Trung Bộ 6.500 ha-10 tấn/ha, Tây Nguyên 113.000 ha-12 tấn/ha (Gia Lai 50.000 ha) và Đông Nam Bộ 339.000 ha- 15 tấn/ha. Theo Tập đoàn Cao su Việt Nam, vào năm 2010, diện tích cao su có thể đạt mức 700.000 ha; trong đó diện tích khai thác từ 420.000 đến 450.000 ha và cho sản lượng trên 600.000 tấn; kim ngạch xuất khẩu vẫn giữ được ở mức trên 1 tỷ USD. Đến năm 2015, diện tích khai thác đạt 520.000 đến 530.000 ha, và sản lượng ước đạt 750.000-800.000 tấn, đạt kim ngạch xuất khẩu 1,5 tỷ-1,6 tỷ USD.
Theo thống kê năm 1976, tổng diện tích cao su chỉ có 76.600 ha, với sản lượng 40.200 tấn. Năm 2005, cả nước đã có 480.000 ha, và đạt sản lượng 468.600 tấn mủ. Riêng khối quốc doanh có khoảng 287.800 ha (chiếm 72,7%) và 380.500 tấn (81,2%) với năng suất khá cao, do áp dụng các tiến bộ kỹ thuật và giống cao sản. Diện tích cao su tiểu điền và tư nhân ước khoảng 194.370 ha (chiếm 40,5% tổng diện tích) và sản lượng khoảng 88.000 tấn (chiếm 19% tổng sản lượng).
Vị thế ngành cao su Việt Nam trên thế giới ngày càng được khẳng định. Trước năm 2005, Việt Nam là nước sản xuất cao su thiên nhiên đứng thứ 6 trên thế giới (sau các nước Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Ấn Độ, và Trung Quốc). Năm 2005, nhờ sản lượng tăng nhanh hơn Trung Quốc, Việt Nam đã vươn lên hàng thứ 5. Riêng về xuất khẩu, từ nhiều năm qua Việt Nam đứng hàng thứ 4, với sản lượng tăng dần qua các năm, từ 273.400 tấn (năm 2000), lên 308.100 tấn (2001), 454.800 tấn (2002), 433.106 tấn (2003), 513.252 tấn (2004), 587.110 tấn (2005) và 690.000 tấn (năm 2006).Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao su của Việt Nam trong giai đoạn 2001-2006 bình quân đạt 17,66%/năm, là cao nhất so với các nước Thái Lan (2,37%), Indonesia (5,27%), Malaysia (3,52%). Năm 2005, tổng kim ngạch xuất khẩu cao su đạt 804 triệu USD (xếp thứ 2 trong số các mặt hàng nông sản xuất khẩu sau gạo); năm 2006 đã đạt 1,27 tỷ USD và là mức cao nhất từ trước tới nay. Theo tính toán, năm 2006, bình quân mỗi ha cao su đã đạt mức tổng thu khoảng 46 triệu đồng (đối với khối quốc doanh), và khoảng 27 triệu đồng (đối với cao su tiểu điền), riêng của Tổng công ty Cao su Việt Nam đạt mức bình quân hơn 50 triệu đồng/ha.
Ngoài hiệu quả kinh tế như đã được ghi nhận, cây cao su còn góp phần giải quyết việc làm cho khoảng 110.000 lao động khối quốc doanh và trên 77.000 hộ nông dân tiểu điền. Những năm gần đây, do thị trường và giá cả thuận lợi, năng suất lại gia tăng..., nên thu nhập của người trồng cao su có nhiều cải thiện đáng kể; nhiều địa phương đã sử dụng cây cao su như một giải pháp xóa đói giảm nghèo.Theo Viện Điều tra quy hoạch rừng, Tây Nguyên được xác định là vùng trọng điểm cao su của cả nước (cùng với vùng Đông Nam bộ) vì có lợi thế nhất về tiềm năng đất đai để mở rộng diện tích cao su. Hiệu quả SXKD của các công ty cao su khu vực Tây Nguyên trong những năm qua cho thấy, việc mở rộng diện tích trồng cây cao su khu vực này là đúng đắn. Một khảo sát thực địa gần đây cho thấy, quỹ đất có khả năng chuyển đổi để trồng cao su vùng là 170.000 ha nằm trên địa bàn 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Nếu tận dụng tốt quỹ đất có thể trồng được khoảng 102.000 ha cao su nguyên liệu; trong đó chủ yếu chuyển đổi từ rừng tự nhiên kém chất lượng (82.900 ha), phần còn lại từ đất lâm nghiệp chưa có rừng (28.100 ha) và đất màu, nương rẫy, cây cà phê kinh doanh kém hiệu quả (59.000 ha). Hiệp hội Cao su Việt Nam cho biết, hiện cao su là mặt hàng nông sản có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam (sau gạo). Riêng năm 2006, cao su thiên nhiên xuất khẩu của Việt Nam (bao gồm cả nguồn cao su thiên nhiên nhập khẩu từ các nước láng giềng), đã đạt sản lượng gần 708.000 tấn, với tổng giá trị xấp xỉ 1,3 tỷ USD. Bên cạnh đó, việc phát triển cây cao su còn góp phần xây dựng và mở mang các vùng kinh tế mới, tạo công ăn việc làm cho hàng triệu lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo.
Thực tế, tại các vùng trồng cây cao su, hệ thống giao thông vận chuyển được đầu tư mới và nâng cấp nhiều, góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới mới phát triển cây cao su trong những năm gần đây. Cây cao su cũng còn được các chuyên gia đánh giá là đã góp phần đáng kể vào việc che phủ và chống xói mòn đất, nhất là tại các vùng đồi núi khu vực Tây Nguyên và duyên hải miền Trung.Chiếm thị trường thế giới bằng đồ gỗ cao su
Nhiều dự báo đều cho rằng nhu cầu cao su thiên nhiên sẽ còn gia tăng liên tục cho đến năm 2035. Các nước như Thái Lan, Indonesia cũng đã có các chương trình khuyến khích phát triển cây cao su. Malaysia còn đưa việc phát triển này vào các dự án trồng rừng. Trung Quốc cũng đang khuyến khích các nhà đầu tư của mình vào trồng cao su tại các nước Philippines, Lào, Campuchia... Các chuyên gia cũng cho biết, trong tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành cao su, có cả phần xuất khẩu đồ gỗ cao su vào khoảng 190 triệu USD, tức chiếm khoảng 10% trong năm 2006. Triển vọng xuất khẩu đồ gỗ từ cây cao su trong tương lai sẽ còn gia tăng, ước đạt 400-500 triệu USD/năm là hoàn toàn khả thi. Ngoài ra, với việc cải thiện các quy trình công nghệ chế biến sản phẩm mủ cao su ngày càng hiện đại hơn, chắc chắn giá trị gia tăng của các ngành hàng cao su sẽ còn cao hơn.Vấn đề đặt ra hiện nay, theo các chuyên gia, diện tích đất để quy hoạch phát triển cây cao su, nhất là cho đại điền, loại hình mang lại hiệu quả kinh tế cao, hiện nay dự án trồng 5 triệu ha rừng trong giai đoạn 1998-2005, gồm 2 triệu ha rừng phòng hộ và 3 triệu ha rừng sản xuất; vào cuối năm 2006 vừa qua đã được điều chỉnh còn 1 triệu ha rừng phòng hộ, 2 triệu ha rừng sản xuất và bổ sung 1 triệu ha rừng cây công nghiệp và cây ăn quả. Như vậy, nếu mạnh dạn giao diện tích đất trong dự án trồng 5 triệu ha rừng để phát triển cây cao su thì không những đáp ứng được mục tiêu của dự án trồng rừng, mà đáp ứng được cả yêu cầu kinh tế- xã hội từ cây cao su. Ở các vùng đất thuận lợi, cây cao su sẽ được thâm canh tăng năng suất, khai thác mủ là chính và tận dụng nguồn gỗ khi thanh lý vườn cây. ở những vùng đất xấu, đất dốc, cây cao su được trồng chủ yếu lấy gỗ và kết hợp khai thác mủ.
Thách thức còn ở phía trướcSo với các nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, Malaysia, ngành cao su Việt Nam vẫn phát triển sau với khoảng cách rất xa về sản lượng, về xuất khẩu và đặc biệt là sự phát triển cân đối giữa khu vực hạ nguồn và khu vực thượng nguồn, về kinh nghiệm xử lý môi trường, về phương thức buôn bán. Học tập kinh nghiệm của các nước tiên tiến trong khu vực, Việt Nam sẽ tập trung phát triển ngành cao su theo phương hướng: Phát triển khu vực thượng nguồn trên cơ sở tăng diện tích kết hợp với thâm canh, áp dụng khoa học kỹ thuật để đưa năng suất bình quân lên 2 tấn/ha và đạt sản lượng 1 triệu tấn sau năm 2010. Tăng cường đầu tư vào khu vực hạ nguồn, bao gồm cả thu hút đầu tư nước ngoài để sản xuất các sản phẩm công nghiệp cao su như các sản phẩm latex, săm lốp ô tô, sản phẩm cao su kỹ thuật để phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Phát triển công nghệ chế biến sản phẩm gỗ từ gỗ cao su để tăng thêm giá trị cho ngành cao su và tăng kim nghạch xuất khẩu. Tăng cường hợp tác quốc tế để học hỏi kinh nghiệm của các nước tiên tiến trên thế giới, đặc biệt là của các nước Đông Nam Á và đóng góp tích cực cùng các nước sản xuất cao su để duy trì mức giá cả công bằng cho người sản xuất cao su tự nhiên so với cao su nhân tạo.
Để có thể nâng cao khả năng xuất khẩu, lợi nhuận từ xuất khẩu hơn nữa thì Việt Nam cần đẩy mạnh sản xuất những loại cao su nhu cầu cao như SVR 10, SVR 20. Bên cạnh đó cần nâng cao khả năng chế biến, nâng dần tỷ trọng chế biến tinh để góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu và nâng cao sức cạnh tranh của mặt hàng cao su Việt Nam trên thị trường quốc tế. Nghiên cứu sâu hơn về chuỗi giá trị ngành hàng cao su và phân bố chi phí lợi ích giữa các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trịTỷ trọng xuất khẩu cao su của Việt Nam trên thế giới còn chưa cao (khoảng 7% theo lượng xuất khẩu), uy tín chưa cao nên giá xuất khẩu cao su của Việt Nam còn thấp hơn so với giá cao su trên thị trường thế giới. Cùng một mặt hàng RSS1 nhưng giá cao su của Việt Nam bán cho bốn thị trường thì đều kém Malaysia, Singapore, và Mỹ. Giá cao su Việt Nam thấp một phần do chất lượng cao su của ta còn thấp, chủng loại ít. Thị trường xuất khẩu cao su lớn nhất của việt nam là trung quốc (chiếm khoảng 60% tổng sản lượng). Sở dĩ Trung Quốc nhập khẩu một khối lượng lớn cao su Việt Nam là do gần 90% sản lượng mủ cao sết VR3L của ta thích hợp với việc sản xuất săm lốp cao su chất lượng thấp. Còn loại cao su SVR10, SVR20 có thị trường tiêu thụ khá rộng nhưng Việt Nam lại không có đủ hàng để cung cấp.
Cuối cùng, đối với các tỉnh Tây Nguyên, khẩn trương hoàn thành việc quy hoạch mở rộng phát triển cao su theo kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 125/TB-VPCP ngày 14/8/2006. Việc chuyển đất rừng nghèo kiệt sang trồng cao su phải thực hiện đúng quy định của pháp luật. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh trồng cao su, tăng cường quản lý giống cây cao su, đặc biệt quản lý cơ cấu giống, nguồn gốc và chất lượng của giống theo tiêu chuẩn quy định. Kiểm soát chặt chẽ các cơ sở sản xuất và cung ứng giống cao su. Sử dụng giống cao su ghép, không trồng bằng hạt. Đối với những lô giống không có nguồn gốc rõ ràng hoặc không đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng phải kiên quyết loại bỏ để tráng gây thiệt hại cho người sản xuất sau này.
